Sự khác biệt trên bình diện ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) và lời nói giữa ngôn ngữ đích và ngôn ngữ nguồn.Đây là trở ngại cơ bản trong việc dạy/học kĩ năng nghe hiểu.
Về mặt ngữ âm: Học sinh phải làm quen với một hệ thống âm vị mới và luyện tập để nhận biết một số âm không có trong thứ tiếng mà mình biết. Thực tế cho thấy, nếu hệ thống âm vị của ngôn ngữ đích càng khác với hệ thống âm vị của ngôn ngữ nguồn thì càng gây trở ngại cho người học trong việc làm quen và nhận diện các âm mới. Tiếng Pháp và tiếng Việt là hai thứ tiếng có nguồn gốc khác nhau. Trong hệ thống âm vị tiếng Pháp có nhiều âm vị mà trong tiếng Việt không có. Ví dụ như trong số 36 âm vị tiếng Pháp có tới 11 âm vị không có trong tiếng Việt. Đây chính là những khó khăn cho học sinh Việt Nam trong việc làm quen, nhận diện và luyện tập nghe trong giai đoạn mới học tiếng Pháp, đặc biệt là các nguyên âm giọng mũi và các âm /Y/ và /R/. Tuy nhiên, khả năng phân biệt các âm vị thường hạn định ở giai đoạn đầu của việc học ngoại ngữ, cần nhận diện những cặp âm vị cơ bản. Khi học viên đã có những kiến thức nhất định về từ vựng và ngữ pháp thì chu cảnh sẽ giúp họ phân biệt những âm vị khó.
Mặt khác, các yếu tố cận ngôn như trọng âm (accentuation), giai điệu (mélodie), ngữ điệu (intonation), nhóm nhịp điệu (groupe rythmique) đặc thù, đặc tính giọng nói của người phát ngôn cũng gây trở ngại đáng kể cho học sinh Việt Nam trong việc nghe hiểu tiếng Pháp không những ở giai đoạn cơ sở mà cả ở giai đoạn đề cao. Việc làm quen và tiếp thu các yếu tố cận ngôn đặc thù của tiếng Pháp rất khó đối với người Việt, đòi hỏi học sinh phải luyện tập nghe thường xuyên và nỗ lực, kiên trì của giáo viên.
Về mặt từ vựng: từ tiếng Pháp hầu hết là từ đa âm trong khi đó từ tiếng Việt là
đơn âm. Sự khác biệt về số lượng âm tiết cấp độ từ gây trở ngại không nhỏ cho học sinh Việt Nam trong nghe hiểu tiếng Pháp. Mặt khác, muốn hiểu được ngôn bản trước hết phải nhận diện và hiểu nghĩa từ vựng trong ngữ cảnh, phải xác định được từ vựng liên quan thuộc cấp độ ngôn ngữ nào. Tuy nhiên,thực tế dạy Nghe hiểu cho thấy một khi học sinh đã có một vốn từ vựng cần thiết tiếp thu được trong quá trình học ở giai đoạn cơ sở, những khó khăn về mặt từ vựng kể trên không còn là trở ngại đáng quan tâm nữa. Cái khó còn tồn tại và kéo dài ngay cả trong giai đoạn đề cao là nghe hiểu được các yếu tố văn hoá, văn minh hàm ẩn trong từ vựng. Trong nhiều trường hợp, học sinh hiểu hết các từ trong một phát ngôn nhưng không hiểu được nghĩa của phát ngôn đó. Đó là vì trong phát ngôn có chứa đựng các yếu tố văn hoá, văn minh mà học sinh chưa biết.
Một trở ngại nữa cần quan tâm về mặt từ vựng trong việc dạy nghe hiểu ở giai đoạn đềcao là các thuật ngữ, vì đằng sau cái vỏ âm thanh nghe được là cả một nội hàm chỉ các khái niệm đòi hỏi phải có những kiến thức chuyên ngành mới hiểu được. Có thể lấy một ví dụ: trong một phát ngôn thuộc lĩnh vực kinh tế hàng hoá có từ « familles », với vốn từ vựng thông thường khi nghe từ này học sinh không thể hiểu được nghĩa, vì đây là thuật ngữ chỉ một khái niệm chuyên ngành, nghĩa của nó là: các chủng loại sản phẩm hay mặt hàng trong một loại sản phẩm đồng chất. Một ví dụ khác, khi nghe từ « circuit économique », với vốn từ vựng thông thường, học sinh chỉ có thể hiểu là Chu trình kinh tế, nhưng chu trình kinh tế là gì? thì phải có kiến thức chuyên ngành kinh tế mới hiểu được: đó là một chu trình khép kín gồm 3 yếu tố có mối liên quan chế định nhau: sản xuất, nhu cầu và thu nhập
4. Về mặt ngữ pháp: đây là một trong những trở ngại cơ bản cho quá trình giải mã các tín hiệu ngôn ngữ. Sự khác biệt rất lớn về mặt ngữ pháp giữa tiếng Pháp và tiếng Việt như: cách biểu đạt thời thể, sự tương hợp thời thể, hình thái‐cú pháp, giống số của một loạt từ loại như quán từ, danh từ, đại từ, tính từ và vô số các qui tắc ngữ pháp khác thực sự là những thách thức đối với học sinh Việt Nam trong nghe hiểu tiếng Pháp. Tuy nhiên, trong quá trình học ngoại ngữ các kiến thức tiếp thu được về từ vựng, ngữ pháp, các kĩ năng thực hành khác sẽ hỗ trợ, bổ sung và nâng cao khả năng nghe hiểu, giải mã cacs phát ngôn, ngôn đoạn và ngôn bản. Trong giai đoạn đề cao, trở ngại lớn nhất về mặt ngữ pháp trong quá trình nghe hiểu ngôn bản là lôgic ngữ nghĩa, tình thái thông qua các cấu trúc ngữ pháp, thông qua hệ thống từ nối liên kết ngôn bản.
3.2.4. Các yếu tố ngữ dụng liên quan đến việc xác định ý nghĩa xác thực của ngôn bản (thông qua hình thức ngôn ngữ của nó) chính là vấn đề khó nhất đặt ra cho giáo viên khi dạy nghe hiểu bởi lẽ chỉ khi đặt phát ngôn cụ thể vào một ngữ cảnh giao tiếp‐văn hoá của ngôn ngữ đích mới có thể xác định được ý nghĩa xác thực của ngôn bản, mới hiểu được ý đồ và thái độ của người nói, tình cảm của người nói trong giao tiếp. Thế nhưng khi nghe một ngôn bản thông qua băng cátsét (phương tiện dạy nghe phổ biến hiện nay), chúng ta không có đủ các yếu tố về ngữ cảnh giao tiếp‐văn hoá cần thiết để hiểu được ý nghĩa xác thực. Xin trích dẫn một ví dụ minh hoạ của PGS TS Nguyễn Hoà trong bài viết Lực ngôn trung và các kiểu câu đăng trong Kỉ yếu Hội thảo về Ngữ dụng học 4/1999 tại Hà Nội, trang 262‐263: Nhà rất bẩn (con ạ)! phát ngôn này có thể hiểu thuần tuý là sự miêu tả một sự tình, song trong nhiều hoàn cảnh giao tiếp, thường được hiểu như là một sự quở trách hay là một yêu cầu cần dọn dẹp. Như vậy muốn hiểu được nghĩa xác thực của phát ngôn trên phải đặt phát ngôn vào ngữ cảnh giao tiếp‐văn hoá của ngôn ngữ nguồn mới hiểu được ý đồ của người nói.
Sự ông biệt tren bình điện ngôn tính (tính là, từ vựng tính pháp) va hào nội giữa ngôn tính đich va ngôn tính Nguồn.Đay có trở ngại cơ bản trong việc dạy/học kĩ năng nghe hiểu. Về mặt tính là: Học sinh nhanh chóng lam quen với một hay thống là vị khi va MD. emdadul tổ tiếng nhận biết một số là khong co thứ ma minh biết hiện trong. Thực tế cho thấy, nếu hay thống là vị của ngôn tính đich cang khắc với hay thống am vị của ngôn tính nguồn thị cảng đồng tính trở ngại cho người trong việc lam quen va nhận ðiện cac đang theo học. Tiếng Pháp tiếng Việt va có hai thứ tiếng nguồn gốc ông nội co. Trọng hay thống là vị tiếng Pháp co nhiều là vị trọng tiếng Việt không co ma. VI dụ như trong số 36 là vị tiếng Pháp co tới 11 am khong co trong tiếng Việt vị. Đay chính là những kho khăn cho học sinh Việt Nam trong việc lam quen, nhận ðiện va MD. emdadul tổ nghệ trong giai đoạn sau khi khóa học tiếng Pháp, đặc biệt có cac Nguyễn là giọng mũi va cac là /Y/ va R. Tuy nhiên, gièm năng phan biệt cac là vị thường hạn định ở giai đoạn đầu của việc học ngoại tính, cần nhận những cặp là vị cơ bản điện. KHI học viên đã co những kiến ngữ nhất định về từ vựng va tính pháp cảnh sẽ giúp họ biệt những là vị kho phan chu thi.Mặt khắc, cac yếu tố cận ngon như trọng là (nhấn mạnh), giai điệu (giai điệu), tính điệu (intonation), lô nhịp điệu (nhịp điệu nhóm) đặc thứ năm, đặc tính giọng noi của người phát ngon cũng đồng tính trở ngại đang kể cho học sinh Việt Nam trong việc nghe hiểu tiếng Pháp không những ở giai đoạn cơ sở ma nhãn ở giai đoạn đề CAD. Việc lam quen va truyện thu cac yếu tố cận ngon đặc thu của tiếng Pháp er kho đối với người Việt, đòi hỏi học sinh nhanh chóng MD. emdadul tổ nghệ thường xuyên nỗ lực, kiên trì của giao vien va. Về mặt từ vựng: từ tiếng Pháp hầu hết có từ đá là trong khi đo từ tiếng Việt cóĐơn xin. Sự ông biệt về số lượng đang tiết cấp độ từ đồng tính trở ngại khong nhỏ cho học sinh Việt Nam trong nghệ hiểu tiếng Pháp. Mặt khắc, muốn hiểu được ngon bản trước hết nhanh chóng nhận ðiện va hiểu nghĩa từ vựng trong tính cảnh, nhanh chóng xac định được từ vựng liên kết quan thuộc cấp độ ngôn tính nao. Tuy nhiên, thực tế nghệ dạy thấy hiểu cho một khi sinh học đá co vốn tin một vựng tin từ cần thiết truyện thu được trong qua trinh học ở giai đoạn cơ sở, những kho khăn về mặt từ kể vựng tren khong của con có trở ngại đang quan tâm nữa. CAI kho lạnh tồn tại va keo đại ngay trong giai đoạn đề CAD nhãn có nghe hiểu được cac yếu tố văn hóa văn minh ham ẩn trong từ vựng. Trong nhiều trường hợp, học sinh hiểu hết cac từ trong một phát ngon nhưng không hiểu được của phát ngon đo nghĩa. Đo có vi trọng phát ngon co chứa đựng cac yếu tố văn hóa văn minh ma học sinh chưa biết. Một trở ngại nữa cần quan tâm về mặt từ vựng trong việc dạy nghệ hiểu ở giai đoạn đềcao có ACC thuật tính, vi đằng sau cái vỏ là thanh nghệ được có nhãn một nội hàm chỉ cac khai niệm đòi hỏi nhanh chóng co những kiến ngữ chuyên nganh khi hiểu được. Co Bulgaria lấy một vi dụ: trong một phát ngon thuộc lĩnh vực kinh tế hàng hóa co từ 'gia đình', với vốn từ vựng thông thường khi nghe từ nay học sinh không Bulgaria hiểu được nghĩa, vi đây có thuật tính chỉ một khai niệm chuyên nganh nghĩa của số có: ACC chủng loại ở sanh hay mặt treo trong một loại ở phẩm chất đồng. Một vi dụ khắc, khi nghe từ "kinh tế mạch", với vốn từ vựng thông thường, học sinh chỉ co Bulgaria hiểu có Chu trinh kinh tế, nhưng chu trinh kinh tế có IM? Thị nhanh chóng co kiến ngữ chuyên kinh tế khi hiểu được nganh: đo có một chu trinh khep thân nhân gồm 3 yếu tố co mối quan chế định nội liên kết: ở cạnh, nhu cầu va thu nhập4 Về mặt tính pháp: đây có một trong những trở ngại cơ bản cho qua trinh Giai ma cac tin hiệu ngôn tính. Sự ông biệt er lớn về mặt tính pháp tiếng Pháp tiếng Việt như va giữa: cách biểu đạt thời Bulgaria, sự tương hợp thời Bulgaria, hinh thai‐cu phap, giống số của một loạt từ loại như quan từ, danh từ đại từ tính từ va võ số ACC mà tắc tính pháp ông thực sự có những thạch ngữ đối với học sinh Việt Nam trong nghệ hiểu tiếng Pháp. Tuy nhiên, trong qua trinh học ngoại tính cac kiến ngữ truyện thu được về từ vựng tính pháp, cac kĩ năng thực hạnh khắc sẽ hỗ trợ bổ sung va nang cao gièm năng nghe hiểu, Giai ma cacs phát ngon ngon đoạn va ngon bản. Trong giai đoạn đề cao, trở ngại lớn nhất về mặt tính pháp trong qua trinh nghệ hiểu ngon bản có logic tính nghĩa, tinh thông thái Quebec cac cấu lừa tính phap, thông qua hay thống từ liên kết ngon bản kết nối.3.2.4 Cac yếu tố tính Scholars liên kết quan đến việc xac định y nghĩa xac thực của ngon bản (thông qua hinh ngữ ngôn tính của số) chính có vấn đề kho nhất đặt ra cho giao vien khi dạy nghệ hiểu bởi lẽ chỉ khi đặt phát ngon cụ Bulgaria vào một tính cảnh giao tiếp‐văn hòa của ngôn tính đich khi co xac định được y nghĩa xac thực của ngon bản Bulgaria khi hiểu được y đồ va Thái độ của người noi, tình cảm của người nội giao truyện trọng. Thế nhưng khi nghe một ngon bản thông qua băng catset (phương tiện dạy nghệ phổ biến hiện nay), chung ta khong co đủ cac yếu tố về tính cảnh giao tiếp‐văn hòa cần thiết tiếng hiểu được y nghĩa xac thực. Xin suo trich dẫn một vi dụ minh hoạ của PGS TS Nguyễn Hoa trong bài Matrix Lực ngon trung va cac kiểu cầu đăng trong Kỉ yếu Hội thảo về tính học tại Hà Nội, trang 262‐263 4/1999 Scholars: Nha er bẩn (con ạ)! Phát ngon nay co Bulgaria hiểu thuần tuy đây sự mieu tả một sự tĩnh, bài hát trong nhiều cảnh giao truyện, thường được như hiểu hoàn có một sự quở Trạch hay có một yêu cầu cần dọn dẹp. Như vậy muốn hiểu được nghĩa xac thực của phát ngon tren nhanh chóng đặt phát ngon vao tính cảnh giao tiếp‐văn hòa của ngôn tính nguồn khi hiểu được y đồ của người noi.
đang được dịch, vui lòng đợi..

Sự khác Biệt Điện trên bình Ngôn ngữ (ngữ âm, Vũng từ, ngữ Pháp) and lời nói Giua Ngôn ngữ destination and Language nguồn.Đây ORT Ngãi Cơ bản in việc ngày / học Ki Nẵng nghe Hiếu.
VE MAT ngữ âm : Học sinh non làm quen voi one hệ Thống âm VI mới and Luyện tập Je nhận biết a number âm not in tiếng thứ mà mình biết. Thực tế rather, ĐH KTQD hệ Thống âm VI of Ngôn ngữ destination Càng khác VOI hệ Thống âm VI of Ngôn ngữ Nguon Thị Càng Gay TRO Ngãi người cho in việc học làm quen and receive the Dien âm mới. Tiếng Pháp and tiếng Việt có hai thứ tiếng has Nguon Goc khác nhau. Trọng hệ Thống âm VI tiếng Pháp nhieu âm present in tiếng Việt VI without a. VI as in tiếng số 36 âm VI Pháp has TOI 11 âm VI not in tiếng Việt. Đấy Chính có Nhung Kho Khan cho Việt Nam học sinh in việc làm quen, nhận Luyện tập nghe and Dien in tiếng giai Đoàn mới học Pháp, đặc Biet có its nguyên âm Giồng mũi and other âm / Y / and / R /. Tuy Nhiên, Kha Nang phân Biet the âm VI Thường Han định out giai Đoàn beginning of việc học Ngoại ngữ, cần nhận Dien Cape âm Nhung vi Cơ bản. Khi học viên existing Nhung Kiến Thức Nhất định về từ Vũng and ngữ Pháp thì chu Cảnh SE giúp they phân Biet Nhung âm VI Kho.
Mat khác, the Yeu để CAN Ngôn such as Trọng âm (giọng) giai Điều (melody) ngữ Điều (ngữ điệu), Nhom Rhythms (nhóm nhịp điệu) đặc Thu, đặc tính Giồng nói of the person phát Ngôn Cung Gay TRO Ngãi Đặng ke cho học sinh Việt Nam in việc nghe Hiếu tiếng Pháp can Nhung out giai Đoàn Cơ Sở mA AC out giai Đoàn đề cao. Việc làm quen and tiếp thu the Yeu để CAN Ngôn đặc THU of tiếng Pháp rat kho Đổi VOI người Việt, Đổi Hỏi học sinh non Luyện tập nghe Thường Xuyên and nO lực Kiên Trì of giáo viên.
VE MAT từ Vũng: từ tiếng Pháp Hậu Het có từ ADI âm during which từ tiếng Việt ở đây
đôn âm. Sự khác Biet về số lượng âm tiết cấp độ từ Gay TRO Ngãi can Nho cho Việt Nam học sinh in Hiếu nghe tiếng Pháp. Mat khác, muon Hiếu be Ngôn bản Truoc Het right and receive Điền Hiếu nghĩa từ Vũng in ngữ Canh must be XAC định from Vũng Liên quan Thước cấp độ Ngôn ngữ nào. Tuy Nhiên, thực tế ngày Nghe Hiếu cho Thầy one chi học sinh already have one von từ vựng cần Thiet tiếp obtained in quá trình học ở giai Đoàn Cơ SO Nhung Kho Khan về Mat from Vũng Ke trên no CON TRO Ngãi Đặng tâm quan Nưa. Cai kho Côn Tôn Tại and kéo CA ngay in dai giai Đoàn đề Cao Hiếu có nghe be the tới Vạn Yêu Hòa Minh văn Hàm AN in Vũng từ. Trọng nhieu trường hợp, học sinh in Hiếu Het words one phát Ngôn Nhung can not be Hiếu nghĩa của phát Ngôn which. Which VI in phát Ngôn has its Yeu Chua đựng tới Vạn Hoa văn Minh mà học sinh Chua biết.
Một TRO Ngãi Nưa cần quan tâm về Mat from Vũng in việc Day nghe Hiếu out giai Đoàn đềcao có CAC Thuật ngữ, VI Đặng sau cái vo thanh âm nghe be CA one nội Hàm only Khai NIEM Đổi Hỏi must be Nhung Kiến Thức Lĩnh vực mới Hiếu be. Có thể Lay one VI: in an phát Ngôn Thước Lĩnh CUV Kinh tế hàng Hoá has từ "gia đình", Voi von từ Vũng thông Thường while nghe from this học sinh could not be Hiếu nghĩa, VI đấy có Thuật ngữ just one Khai Niệm Lĩnh vực, nghĩa of its có: các Loai Sản Chung Mat Hằng Phạm hay in đồng an Loai Sản Phạm mèo. Một VI khác, while nghe từ "chu kỳ kinh tế" Voi von từ Vũng thông Thượng học sinh can only có Hieu Chu trình tế Kinh, nhung chu trình Kinh tế gì đó? thì must have Kiến Thức Lĩnh vực: Kinh tế mới Hiếu được: which có Mot chu trình khép Kin GOM 3 Yeu Co Me Liên quan chế định nhau San Xuat, and thu nhu cầu nhập
4. Mat về ngữ Pháp: Đấy có one of nhung tro Ngãi Cơ bản cho quá trình giải mã its Tín Hiếu Ngôn ngữ. Sự khác Biet rat Lớn về Mat ngữ Pháp Giua tiếng Pháp and English as: cách Biều Đạt thời thể, sự Tương hợp thời thể, hình thái-cú Pháp, Giồng of the one loat from Loai such as quán từ, danh từ, đại từ, tính từ vô and number of rằng TAC ngữ Pháp khác actually Nhung Thạch Thục có Đổi Việt Nam Voi học sinh in Hiếu nghe tiếng Pháp. Tuy Nhiên, trong quá trình học Ngoại ngữ its Kiến Thức tiếp obtained về từ Vung, ngữ Pháp, the Ki Nẵng thực hành khác SE Ho Tro Bo sung and nang cao Kha Nang Nghề Hiếu, giải mã cacs phát Ngôn, Ngôn Đoàn and Ngôn bản. Trọng giai Đoàn đề cad, tro Ngãi Lớn Nhất về Mat ngữ Pháp quá trình nghe in Hiếu Ngôn bản logic ngữ nghĩa, tình thái thông qua cau the Trúc ngữ Pháp, thông qua hệ Thống from Nội Liên kết Ngôn bản.
3.2.4 . Các elements ngữ dụng Liên related việc XAC định ý nghĩa XAC thực of Ngôn bản (thông qua hình Thục Ngôn ngữ of it) Chính Văn đề Kho Nhất đất ra cho giáo viên Chi Day nghe Hiếu Bội Chi Chi đất phát Ngôn CU thể into a ngữ Cảnh giao tiếp-văn Hoá of Ngôn ngữ destination mới possible XAC định been ý nghĩa XAC thực of Ngôn bản, mới Hiếu been ý Đồ and thái độ of người nói, tình Cam of the person nói in giao tiếp. Thế Nhung Khỉ nghe an Ngôn bản thông qua Bang cátsét (Phương Pho Bien Tiên Day nghe Hiện nay), Chung ta has not enough the elements về ngữ Cảnh giao tiếp-văn cần Thiet Hòa Hiếu Je been ý nghĩa XAC thực. Trich Xin Dan MOT VI của Nguyễn Minh Hòa Hòa of PGS TS in bài viết Trung Luc Ngôn and types câu Đăng Ki in Hoi Yeu thảo về Ngữ dụng học 4/1999 Tại Hà Nội, 262-263 trang: Nha Ban Rat (con A)! phát Ngôn this possible Hiếu Thuận Tuy có sự Miêu Tả one sự tình, bài hát in nhieu Hoàn Cảnh giao tiếp, Thường be Hiếu such as one có sự hiện Trạch hay có an yêu cầu cần Don Dep. Như Vay Muon Hiếu been nghĩa XAC thực phát Ngôn trên of the right đất phát Ngôn ngữ vào Cảnh giao tiếp-văn Hoá of Ngôn ngữ Nguon mới Hiếu been ý Đồ of the person nói.
đang được dịch, vui lòng đợi..
